Thứ Hai, 24 tháng 10, 2011

Con đã về rồi, mẹ ở đâu...

Nguồn Báo Người Lao động, Thứ Ba, 18/10/2011
Trước ngày tôi mổ mấy hôm, anh chị hai vào. Thấy mặt anh hai hốc hác, tôi ngạc nhiên: “Anh hai bệnh hay sao mà ốm nhom vậy?”. Anh cười: “Bệnh hoạn gì? Tại anh lo cho út... À, mẹ có làm cho em hủ mắm. Bữa nay chắc là ăn được rồi nhưng mẹ dặn em không được ăn nhiều...”. Nghe anh hai nói vậy, tôi sụ mặt: “Em không ăn”. Nói rồi tôi bỏ ra nhà sau.
Tôi đã không kịp nói với mẹ lời yêu thương lần nữa bởi cái tính ích kỷ, cố chấp của mình...
Ba mất khi tôi mới lên hai, còn anh hai năm đó 8 tuổi. Mẹ vẫn ở nhà nội dù đã mấy lần, các cô chú muốn đuổi mẹ con tôi ra khỏi nhà để không phải chia gia tài. Thế nhưng mẹ vẫn chịu đựng. Sau này tôi biết mẹ sợ cảnh nhà không có đàn ông sẽ khó giữ được mình bởi trong làng có mấy người để ý, cứ tới lui xa gần. Mẹ bảo, ở với nhà chồng, dù sao người ta cũng kiêng dè, không dám chọc ghẹo, mẹ yên thân làm lụng nuôi con.
Cái đất miền Trung nắng đốt, mưa dầm; mẹ đã phải vất vả một mình nuôi 4 anh em tôi. Ông bà nội chia cho mấy sào ruộng; làm không đủ ăn, mẹ phải mướn thêm ruộng để làm. Rồi mùa thì mẹ lại đi làm mướn khắp nơi. Việc trong làng không đủ, mẹ lại xuôi ngược qua làng kế bên rồi xuống chợ huyện buôn thứ này, bán thứ kia.
 Thương mẹ nên học hết lớp 12, cả anh hai và anh ba đều nghỉ học đi làm. Chỉ có tôi và anh tư được ăn học đàng hoàng. Anh tư thi đậu vào đại học Nha Trang, mẹ mừng không ngủ được. Đến khi tôi chuẩn bị thi đại học thì mẹ bảo: “Út à, con vô Quy Nhơn học đi, cho gần nhà...”.
Nhưng tôi cãi lời thi vào Đại học Kinh tế TPHCM. Ngày biết tin tôi thi đậu, mẹ ngồi lặng hàng giờ dưới bếp. Tôi bực bội: “Con lớn rồi, mẹ phải để con tự quyết định tương lai của con chớ?”. Mẹ kéo vạt áo lau nước mắt: “Mẹ chỉ có một mình con là con gái... Vô trong đó xa xôi quá, nhớ con làm sao mẹ đi thăm?”. Tôi vẫn dấm dẳng: “Mẹ đi thăm làm gì? Con tự lo được”.
Mẹ gom góp tiền bỏ ống, hốt thêm mấy dây hụi để có tiền cho tôi vào Sài Gòn nhập học. Hôm đưa tôi và anh hai lên tàu, mẹ cứ căn dặn anh hai: “Con phải lo xong chỗ ăn ở cho nó đàng hoàng rồi mới được về nghe chưa!”. Rồi mẹ quay sang tôi: “Có hủ mắm trong giỏ, mẹ làm hơi mặn để con ăn lâu...”. Mẹ đâu biết, tôi đã lén bỏ hủ mắm lại nhà sau khi nói với anh hai: “Ở Sài Gòn ai mà ăn mắm?”.
Tôi đang học năm thứ nhất thì ở nhà xảy ra biến cố. Mẹ tôi đi lấy chồng! Nhận được tin, suýt chút nữa tôi đã ngất đi. Mẹ tôi đã gần năm mươi tuổi, ham hố gì mà lại đi bước nữa khi sắp sửa làm sui tới nơi rồi? Tôi gọi điện về nhà. Vừa nghe tiếng mẹ, tôi đã hét lên: “Mẹ có bị làm sao không vậy? Mẹ đã ở vậy bao nhiêu năm nay rồi, giờ sao không chịu yên phận mà còn bày đặt...”.
Tôi biết là tôi hỗn với mẹ nhưng tận đáy lòng mình, tôi thấy đau khổ y như thể mình bị phản bội.
Ngày người ta rước mẹ đi, tôi nhất định không về. Người đàn ông ấy là bạn thân của ba mẹ từ thuở nhỏ. Vợ ông ta mất cũng đã lâu rồi. Nhưng điều quan trọng hơn, chính bà nội là người bày ra chuyện gả bán. Bà nội bảo, bà đã yếu, sống nay chết mai; bà phải lo cho mẹ tôi trước khi nhắm mắt thì mới yên lòng. Nếu không, các cô chú lại kiếm chuyện với mẹ thì không có ai bênh vực.
Lý lẽ của người lớn là vậy nhưng tôi không thể nào chấp nhận được thực tế là mẹ tôi đã đi lấy chồng. Tôi giận mẹ nên tết năm ấy không về; hè cũng không về. Anh hai gọi điện vào bảo mẹ bệnh, tôi cũng không về.
Mãi đến tháng chạp năm đó, bà nội mất tôi mới về chịu tang. Gặp mẹ với ông ta, tôi không thèm chào hỏi nhưng vẫn lén để ý. Tôi thấy mẹ gầy đi rất nhiều. Tôi muốn ôm mẹ, úp mặt vào ngực mẹ để được mẹ xoa đầu nựng nịu và gọi “Út Mót của mẹ” như ngày xưa mỗi khi mẹ đi làm đồng về mệt... Nhưng có cái gì đó cứ níu lại khiến tôi cố làm ra vẻ lạnh lùng.
Xong đám tang nội, tôi đi ngay. Tôi không chào ông ta mà chỉ nói với mẹ: “Con đi đây”. Nói rồi tôi quày quả xách giỏ đi. “Út...”. Mẹ gọi với theo. Tôi hơi khựng lại nhưng rồi lại đi như chạy ra khỏi nhà. Giọng mẹ đuổi theo: “Tết này nhớ về ăn tết nghe con”. Tôi lau nước mắt, không nói tiếng nào.
Tết đó tôi vẫn không về. Đến hè anh hai gọi điện bảo về, tôi cũng không nghe. Tôi xin đi làm thêm ở một tiệm bán thức ăn nhanh. Được hơn nửa tháng thì trong một lần làm thay ca cho một chị bạn, tôi đã ngất xỉu. Tôi được đưa vào bệnh viện cấp cứu. Mấy ngày sau, khi làm đầy đủ các siêu âm, xét nghiệm, tôi biết mình bị hở van 2 lá rất nặng. “Chúng tôi sẽ giới thiệu em sang Viện Tim...”. Vị bác sĩ điều trị cho tôi giải thích cặn kẽ và cho biết, trường hợp của tôi phải mổ thay van tim nhân tạo.
Tôi đi khám lại ở Viện Tim. Kết quả vẫn là phải mổ. Tôi đã ngồi rất lâu trên chiếc ghế đá trong sân bệnh viện. Tôi lấy đâu ra cả trăm triệu chi phí cho ca mổ đây? Mà mổ cũng chưa chắc sống thêm được bao lâu. Tôi muốn chết quách cho xong. Rồi tôi lại oán trách ba mẹ sao lại sinh ra tôi làm gì mà không cho tôi một cơ thể khỏe mạnh... “Mày thật lạ. Có ai muốn con cái mình bị bệnh tật đâu? Nhưng có bệnh thì phải chữa, bác sĩ đã nói là chữa được mà...”- nhỏ bạn ở cùng phòng trọ động viên.
Rồi nó lén gọi điện cho anh hai. Dù đang chuẩn bị cưới vợ nhưng anh hai cũng vào ngay. Anh dẫn tôi vào bệnh viện, hỏi han bác sĩ mọi chuyện rồi đăng ký lịch mổ cho tôi. Tôi phải chờ 6 tháng vì lịch mổ đã dày kín. Trước khi về, anh hai ôm tôi vào lòng: “Út đừng lo, anh sẽ kiếm đủ tiền để chữa bệnh cho em. 60 triệu chớ 600 triệu cũng phải lo”. Tôi khóc: “Anh hai đừng nói với mẹ...”.
Nhưng rồi sau đó mẹ cũng biết vì anh hai không thể giấu mẹ chuyện hệ trọng như vậy. Còn hơn 2 tuần nữa tới ngày phẫu thuật thì mẹ gọi điện vào. Giọng mẹ rất yếu nhưng tôi lại nghĩ là do mẹ xúc động quá. Mẹ bảo sẽ thu xếp để vào với tôi...
Ấy vậy mà chỉ có hai vợ chồng anh hai vào. Tôi lại thấy ghét mẹ ghê gớm. Có lẽ ông ta không cho mẹ vào chứ không có lý do nào khác để mẹ phải vắng mặt khi con của mẹ phải đối mặt với hiểm nguy, sống chết như vậy...
Ca mổ thành công nhưng vì thể trạng tôi vốn gầy yếu nên hồi phục chậm. Phải hơn 10 ngày sau tôi mới xuất viện. Về đến phòng trọ, điều đầu tiên tôi muốn làm là gọi điện cho mẹ. Dù sao thì tôi cũng muốn mẹ yên lòng. Nhưng anh hai lại cản: “Em còn yếu, gọi bây giờ lại xúc động, không tốt đâu. Để anh báo cho mẹ là được rồi”.
Lần sau, rồi lần sau nữa, tôi đòi gọi điện, anh hai lại cản khiến tôi nghi ngờ: “Anh chị giấu em chuyện gì phải không?”. Chị dâu tôi mau miệng: “Út à, mẹ bị bệnh... anh chị sợ em lo nên không nói”.
Cơn giận hờn vụt tan biến. Tôi cười: “Chờ tái khám xong, em sẽ về thăm mẹ”. Anh hai tôi quay đi lau nước mắt. Có lẽ anh mừng vì thấy tôi đã rộng lòng đón nhận cuộc hôn nhân sau của mẹ. Riêng tôi, sau ca đại phẫu vừa rồi, tôi thấy ranh giới giữa sống chết thật mong manh. Đã có lúc tôi sợ mình sẽ chết khi chưa kịp nói những lời yêu thương với mẹ lần nữa...
Rồi tôi cũng được về nhà. Chưa bao giờ tôi nôn nóng như vậy. Tàu khởi hành từ 6 giờ sáng, đến sẩm tối thì tới ga Diêu Trì. Phải đi gần 20 cây số nữa mới tới nhà. Cơm nước xong, chị dâu mắc mùng cho tôi ngủ, còn anh hai thì căn dặn: “Ngủ cho khỏe để sáng mai đi thăm mẹ”.
Tôi ngủ một giấc thật ngon đến tận 7 giờ sáng hôm sau. Chị dâu gọi tôi dậy ăn sáng. Đang ăn, tôi bỗng giật mình khi thấy giỏ nhang đèn, trái cây để trên góc bếp. Có cả một bó bông vạn thọ. Tôi nhíu mày: “Cúng nội hả hai?”. Chị dâu tôi ậm ừ rồi đi thay quần áo. Lúc đó anh hai đang ngồi ở nhà trước. Chờ tôi ăn xong, anh mới cất tiếng: “Út à, ra đây anh bảo cái này”. Nhìn thấy vẻ mặt nghiêm trọng của anh, tôi chột dạ: “Chuyện gì vậy anh hai?”.
Anh bảo tôi ngồi xuống bên cạnh. Tôi ngồi xuống nhưng chờ mãi không nghe anh nói gì, chỉ thấy mắt anh bỗng đỏ hoe. Rồi anh đặt tay lên vai tôi, giọng khàn khàn: “Mẹ... mất rồi em à...”. Tôi tưởng mình nghe lầm. Giọng anh hai nghẹn lại: “Hôm đó mẹ đem tiền qua để anh lo chuyện mổ tim cho em. Mẹ về được chừng một tiếng thì dượng gọi điện bảo là mẹ mệt. Khi anh chạy qua tới thì mẹ đã đi rồi... Mẹ không kịp nhắn gì cho anh em mình...”.
Tôi chết lặng. Vậy là tôi đã không kịp nói với mẹ lời yêu thương lần nữa bởi cái tính ích kỷ, cố chấp của mình...
Chiều đó tôi đã ngồi rất lâu bên mộ mẹ. Tôi có cảm giác mẹ vẫn quanh quẩn đâu đây trong cơn gió chiều thổi nhẹ. Tôi cố nén nhưng nước mắt cứ chảy tràn trên má, trên môi...
Mẹ ơi, con đã về rồi...
Trịnh Hoài Chân

Dạo này người ta hay ly hôn...

Nguồn: Báo Người Lao động, Thứ Bảy, 15/10/2011
Con bé nhìn xoáy vào mắt tôi: “Ba mẹ đừng ly dị nghen. Con thấy dạo này, ba mẹ của bạn con ly dị nhiều lắm. Con sợ...”. Tôi xoa đầu con: “Ba mẹ vẫn bình thường. Gia đình chúng ta là gia đình kiểu mẫu mà... Thôi, con đi ngủ đi”.Còn lại một mình, tôi bỗng thấy đau nhói trong lòng khi nhớ đến những lời con vừa nói. Chẳng lẽ giữ vững một gia đình khó thế sao?
Tối nay trên tivi có chương trình truyền hình trực tiếp lễ tuyên dương các nữ doanh nhân kinh doanh giỏi. Vợ tôi là một trong số 4 nhân vật được chọn để giao lưu. “Anh thích thì đi dự, không thì thôi, em không ép”- nàng bảo tôi trong lúc trang điểm. Tôi nhìn vợ hồi lâu rồi lắc đầu: “Em cứ đi đi, anh ở nhà xem tivi cũng được”.
Chương trình bắt đầu lúc 20 giờ. Phần nghi thức tuyên dương cũng mất gần một tiếng đồng hồ. Chương trình đơn điệu đến nỗi tôi bắt đầu thấy buồn ngủ. Vừa định tắt tivi thì chợt nghe tiếng cô MC giới thiệu tên vợ mình. Nàng được mời lên đầu tiên.
Sau mấy lời mào đầu, người dẫn chương trình hỏi một câu quen thuộc đến nhàm chán: “Xin chị cho biết bí quyết nào giúp chị vừa kinh doanh giỏi; vừa làm tròn vai trò người vợ, người mẹ trong gia đình?”.
Tôi ngồi thẳng dậy, quan sát kỹ vợ mình. Hôm nay chương trình được truyền hình trực tiếp, nàng trang điểm kỹ nên trông trẻ hơn nhiều so với tuổi bốn mươi của mình. “Ông bà ta nói, đồng vợ đồng chồng, tát biển đông cũng cạn. Tôi may mắn có được người chồng hết lòng yêu quý vợ con. Anh ấy luôn chia sẻ với tôi mọi chuyện lớn nhỏ, trong ngoài. Tôi rất hài lòng về những gì mình đang có trong tay...”.
Tiếng vỗ tay vang lên rào rào. Tôi bỗng thấy cổ họng mình khô rát. Vợ tôi nói rằng cô ấy hài lòng vì những gì đang sở hữu trong tay. Như thế có nghĩa, nàng hài lòng cả về người chồng mà mới chiều nay, trong cuộc họp ở công ty, nàng đã hắt cả ly nước vào mặt giữa đám đông những nhân sự chủ chốt của công ty. Tôi chợt thấy tội nghiệp cho những khán giả đang ngồi trong trường quay kia và hàng triệu người đang ngồi trước màn ảnh nhỏ. Họ không biết mình đã bị lừa.
Trong cuộc họp chiều nay, vợ tôi, với cương vị là chủ tịch hội đồng quản trị đã yêu cầu phải đầu tư 30% nguồn vốn vào một công ty sản xuất nước giải khát. Tôi, trong vai trò người điều hành công ty đã phản đối quyết định này. Lý do là vì công ty nước giải khát ấy bị mang tai tiếng vì dính líu đến một bê bối tài chính, giám đốc công ty lại vừa lãnh án 1 năm tù vì tội đánh bạc: “Tôi không đồng ý với ý kiến của chủ tịch hội đồng quản trị.  Đầu tư vào đấy là mạo hiểm...”. Nhưng vợ tôi vẫn khăng khăng: “Người khác không dám đầu tư mà mình dám thì mới dễ thành công. Tôi đã quyết định rồi, đừng ai có ý kiến gì nữa”. Tôi không giữ được bình tĩnh: “Nếu vậy tôi xin từ chức”.
 Vừa dứt lời thì tôi đã hứng trọn cả tách nước trà vào người...
Nhớ những ngày hai vợ chồng mới lập công ty. Vốn ít, không có người, vợ chồng chia nhau, người làm giám đốc, người phó. Bao giờ tôi cũng nhường vợ. Sau này, khi công ty ăn nên làm ra, phát hành thêm vốn điều lệ, vợ tôi “nhường” chức giám đốc cho chồng để ngồi vào chiếc ghế chủ tịch hội đồng quản trị. Cũng từ đó, chuyện lớn nhỏ gì, cô ấy quyết, mới được làm. Bằng không thì đừng hòng...
Thời gian đầu, vợ tôi còn nhường nhịn chồng. Có việc gì không vừa ý thì gọi ra trao đổi riêng hoặc về nhà mới nói. Nhưng khoảng 3 năm trở lại đây, khi công việc làm ăn ngày càng khó khăn, vợ tôi bỗng trở thành một người khác hẳn. Người vợ dịu dàng, nói năng nhỏ nhẹ, từ tốn mà tôi quen từ ngày còn ngồi trên ghế trường cấp 3 đã biến mất. Thay vào đó là một bà chủ tịch hội đồng quản trị lạnh lùng, độc đoán. Bà có thể chửi chồng mình là “đầu óc như bả đậu” trước mặt nhân viên và có thể ném bất cứ thứ gì vào mặt chồng khi có điều phật ý...
“Có phải vì em nghĩ anh là cấp dưới của em nên mới suy nghĩ và hành động như vậy không?”. Có lần tôi đã hỏi thẳng vợ. Nàng trố mắt: “Anh nói sao, em không hiểu?”. Tôi kể lại những chuyện xích mích của hai vợ chồng. Chuyện không đáng nhưng bao giờ cũng kết thúc thật nặng nề. Khi nghe tôi nói vậy, nàng chỉ nhún vai: “Tính em vốn thế, ai biểu anh cưới làm gì?”.
... Buổi giao lưu đã đến phần kết. Nhà tổ chức, nhà tài trợ, khán giả lên tặng hoa cho những người phụ nữ vừa được tán dương như những nàng tiên dịu hiền. Bất giác tôi nhìn những người phụ nữ còn lại. Biết đâu, khi ở nhà, họ cũng lớn tiếng chửi mắng và hắt cả tô canh nóng vào mặt chồng trong bữa cơm... Tôi bỗng thấy ngán ngẫm đến tột cùng khi nghĩ rằng, phía sau vầng hào quang ấy là những gì trần trụi, thô thiển mà rất ít người thấy được...
“Sao ba ngủ ở đây?”- tiếng con gái khiến tôi giật mình. “Con về rồi à? Ba xem tivi rồi ngủ quên...”. Cô con gái 16 tuổi của tôi ngồi xuống bên cạnh ôm lấy cánh tay cha: “Ba buồn phải không? Con để ý thấy gần đây ba rất ít cười”. Tôi nắm lấy tay con xiết nhẹ: “Không có gì đâu con. Chỉ tại công ty có nhiều việc quá nên ba lo đấy mà”.
Con bé nhìn xoáy vào mắt tôi: “Ba mẹ đừng ly dị nghen. Con thấy dạo này, ba mẹ của bạn con ly dị nhiều lắm. Con sợ...”. Tôi xoa đầu con: “Ba mẹ vẫn bình thường. Gia đình chúng ta là gia đình kiểu mẫu mà... Thôi, con đi ngủ đi”.
Còn lại một mình, tôi bỗng thấy đau nhói trong lòng khi nhớ đến những lời con vừa nói. Chẳng lẽ giữ vững một gia đình khó thế sao? “Dạo này người ta hay ly dị”. Con gái tôi lo lắng vì điều đó không phải là vô cớ.
Nhưng tôi phải giữ gìn gia đình mình như thế nào đây? Kinh nghiệm trên thương trường tôi có nhiều, nhưng làm thế nào để một gia đình bền chặt thì chẳng có bài học kinh nghiệm nào chung cho mọi người.
Tôi quyết định xin nghỉ việc. “Kính gởi hội đồng quản trị... Tôi vô cùng biết ơn vì sự trọng dụng, tin cậy của mọi người thời gian qua. Tuy nhiên, xét thấy sự hiện diện của mình có thể gây tổn hại đến lợi ích của công ty, tôi xin từ chức...”.
Tôi đặt lá đơn lên bàn vợ rồi đi về phòng riêng. Những gì cần nói, tôi đã nói. Có thể vợ tôi sẽ không bằng lòng. Nhưng nếu không sớm dứt bỏ thì mãi mãi những mâu thuẫn giữa hai vợ chồng sẽ không thể nào hóa giải được một khi vợ tôi đã lẫn lộn chuyện ở công ty với chuyện gia đình.
 Trong hai phương án xấu nhất, tôi đã chọn phương án ít xấu hơn. Bởi viết đơn từ chức dễ hơn là phải viết đơn ly hôn trong lúc này...
Chưa bao giờ tôi thấy mất tự tin như thế. Chẳng biết rồi đây, tôi có giữ được cuộc hôn nhân của mình hay không...
Quốc Nguyên

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2011

Nhân tài không cần thảm đỏ


Nguồn: Báo Tiền phong ngày 28/9/2011
TP - Vai trò của nhân tài đã được khẳng định từ xa xưa bằng câu nói bất hủ của Thân Nhân Trung: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh. Nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp kém…” (Văn bia 1484).
Thời nay, câu chuyện trọng dụng nhân tài cũng tốn không ít giấy mực và đã nâng lên thành chiến lược quốc gia. Nhưng vì sao vẫn có cảm giác: “Nhân tài như lá mùa thu”?
Cách đây chưa lâu, các địa phương rầm rộ trải thảm đỏ mời nhân tài về làm việc. Nhưng giờ nhìn lại bỗng thấy sau những ồn ào, nhân tài cứ thưa vắng dần.
Thực ra cái quan trọng không là thảm đỏ, mà cái quan trọng là thảm đỏ sẽ dẫn nhân tài tới đâu. Nếu trải thảm đỏ chỉ để dẫn nhân tài tới một môi trường làm việc đầy những thủ tục hành chính ràng buộc, những quan liêu và bệnh thành tích, thì coi như bị sa vào vũng lầy không thể nào “cất cánh” được.
Cũng không cần những hô hào sáo rỗng kiểu “chiêu hiền đãi sỹ”, mà cần cái thực tâm trọng thị, trọng đãi, trọng dụng nhân tài.
Trọng dụng, trọng đãi, trọng thị có liên quan với nhau rất chặt. Đã trọng thị, cần trọng dụng, đã trọng dụng cần trọng đãi.
Khi lập quốc, chính phủ Singapore đã xác định: “Nhân tài là men ủ của sự trỗi dậy quốc gia”. Nhưng để có những “men ủ” ấy đảo quốc sử tử đã đề ra một chiến lược đào tạo những cá nhân xuất sắc về làm việc cho khu vực công, áp dụng tiêu chuẩn thị trường trong đãi ngộ nhân tài. Đồng thời, Chính phủ Singapore cũng mạnh tay đào thải những cá nhân lỗi nhịp trong bộ máy. Lúc đó, cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu đã tuyên bố: “Không để sự trì trệ nằm trong dòng chảy của mình”.
Ở Việt Nam, đây đó, có những sự trì trệ trong dòng chảy đã kìm hãm sự phát triển của nhân tài. Nhân tài không những khó sống với mức thu nhập bằng lương theo kiểu ngạch bậc thông thường, mà còn khó thăng hoa khi có những sự níu kéo của đủ thứ ràng buộc, và bị “định giá” sai. Trong cơ chế thị trường, cái gì cũng có giá, nhân tài càng có giá. Nhân tài cần những ông chủ biết “chọn giá đúng” và biết đặt họ đúng vị trí để phát huy tối đa giá trị của mình.
Xưa nay, con đường đi của nhân tài thường không theo những lối mòn vạch sẵn. Làm sao để thu hút được nhân tài trong cõi nhân quần rộng lớn này là trăn trở của nhiều bậc đế vương.
Hôm nay, chúng ta không thiếu những “chiếu hiền tài”, nhưng lại thiếu đi tấm lòng chân thành, quý chuộng, tin cậy “nguyên khí quốc gia”, lại đặt ra những rào cản hành chính, bằng cấp khiến nhân tài khó tiến thân. Người ta đánh đồng bằng cấp với nhân tài, học vị tiến sỹ chưa thời nào nhiều như bây giờ, nhưng thực tài lại không song hành với tỷ lệ đó.
Hội thảo “Nhân tài với thịnh suy của đất nước” của những học giả bàn về sử dụng nhân tài thắp tiếp hy vọng về những kế sách làm sao nguyên khí quốc gia ngày càng vượng. Đáng để hy vọng vì những học giả, trí thức đã từng nếm trải, ngụp lặn trong cơ chế nên hiểu rõ các mặt ưu khuyết về chính sách trọng dụng nhân tài.
Hy vọng sẽ không phải nghe những tiếng lòng thổn thức một thuở “Tôi khóc những chân trời không có người bay/ Lại khóc cho những người bay không có chân trời”. (Trần Dần). Nhân tài không cần thảm đỏ, mà cần những đường băng để cất cánh.
Phùng Nguyên

Chạy chức, chạy quyền cản đường người giỏi

Nguồn: Báo Tiền phong ngày 28/9/2011
TP - Phát biểu tại Hội thảo “Nhân tài với thịnh suy đất nước”, một số đại biểu cho rằng, tình trạng không minh bạch, nạn chạy chức, chạy quyền, tham nhũng chính là rào cản lớn nhất đối với người tài.
Tài năng và môi trường
GS.TS Hồ Sĩ Quý, Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học xã hội cho rằng, ở Việt Nam nhân tài thời nào cũng có. Nghĩa là môi trường cho tài năng thời nào cũng đủ thôi thúc để tài năng xuất hiện và phát triển. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta không có nhiều nhân tài. Nguyên nhân do môi trường cho tài năng ở Việt Nam còn nhiều điều bất hợp lý, thậm chí nhức nhối, cần tìm cách giải quyết ngoài khuôn khổ của Chiến lược quốc gia về nhân tài.
Theo GS Quý, đó là tình trạng cạnh tranh thiếu lành mạnh, can thiệp để thao túng chính sách; tình trạng tham nhũng và tham nhũng lớn ngày càng khó phát hiện, có thể vô hiệu hóa được sự can thiệp của công lý. Đáng lo ngại hơn là nạn chạy chức, chạy quyền, chạy việc làm, chạy bằng cấp, chạy trường…thậm chí chạy khen thưởng, chạy danh hiệu, chạy án…đã tệ hại đến mức được coi là bình thường, ai cũng thấy mà rồi ai cũng có ý định hay buộc phải làm ngơ.
“Đất nước thật khó hóa rồng, hóa hổ nếu cơ chế vẫn khiến người dân còn làm ngơ với những tệ nạn này. Tài năng không thể phát triển bình thường trong một môi trường như vậy”- GS Quý nói.
Ngoài ra, cơ chế xin- cho tưởng đã chết cùng với thiết chế bao cấp, nhưng thực ra vẫn sống nhởn nhơ và đang lộng hành. Mọi trách nhiệm xã hội đều biến thành ban ơn và hàm ơn. Hệ thống quản lý tài chính thì máy móc, phức tạp. Dối trá ngày càng có nguy cơ trở thành bình thường, miễn là chứng từ chi tiêu hợp lệ, miễn là “nói dối được hợp pháp hóa”.
GS Hồ Sĩ Quý kết luận: “Muốn hạ thấp hay loại bỏ nhân tài, thì chỉ cần bỏ người tài vào một môi trường không thích hợp với tài năng của họ, ngăn chặn các mối liên kết giữa họ với môi trường tất nhiên của họ, tự khắc tài năng đó cũng sẽ mai một rồi thui chột. Do vậy, nếu muốn đề cao, tôn vinh hay phát huy tính tích cực xã hội của nhân tài, thì chưa chắc đã cần đến lương bổng hay đãi ngộ, mà chỉ cần đặt nhân tài vào đúng chỗ của họ”.
Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan trong tham luận của mình cũng cho rằng, không thể phát hiện, đào tạo, sử dụng nhân tài nếu không kiên quyết đẩy lùi những biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ.
Chấn hưng giáo dục mới có người tài
GS Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ KH&CN quả quyết, điều kiện thiết yếu để các nhân tài xuất hiện trong bối cảnh hiện nay là phải có một nền giáo dục quốc dân lành mạnh và thực học.
“Sự không trung thực ở đâu cũng là tai họa nhưng ở trong ngành giáo dục thì tác hại khôn lường. Nền giáo dục này đã dạy trẻ con và buộc phụ huynh phải chấp nhận sự dối trá ngay từ khi lần đầu cắp sách đến trường. Không thể chấn hưng nền giáo dục này bằng các phong trào, đề án”- GS Chu Hảo nhấn mạnh.
Vì vậy, đã đến lúc phải thực hiện nghiêm túc chủ trương của Đảng ghi trong Văn kiện Đại hội XI: Đổi mới toàn diện và triệt để nền giáo dục nước nhà.
Muốn làm được điều này, trước hết phải tiến hành đánh giá một cách toàn diện và khách quan nền giáo dục quốc dân dưới sự chủ trì của Ban Tuyên giáo T.Ư hoặc Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội. Sau đó căn cứ vào kết quả đánh giá sẽ giao cho một Hội đồng hay một ủy ban cải cách giáo dục soạn thảo chương trình cải cách để Quốc hội thông qua.
GS Chu Hảo cũng thẳng thắn đề nghị, trong khi tiến hành các việc này, Chính phủ cần cho tạm dừng các đề án Đổi mới mà Bộ Giáo dục đang triển khai như: Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020, Luật Giáo dục đại học; đổi mới chương trình và sách giáo khoa...
GS Hồ Ngọc Đại đồng tình và cho rằng, chúng ta đang nhầm lẫn giữa bằng cấp và người tài. Nếu không cải cách mạnh mẽ giáo dục, thay “cày chìa vôi bằng máy cày” thì chúng ta không thể có nhân tài.
Mạnh dạn sử dụng người ngoài Đảng
Đó là ý kiến của GS Nguyễn Lân Dũng. Ông nói, Trung Quốc có tới hơn 73 triệu đảng viên, vậy mà họ dám cử các ông Vạn Cương và Trần Trúc không phải là đảng viên giữ các các chức vụ Bộ trưởng Khoa học- Công nghệ và Bộ trưởng Y tế, ngoài ra còn có rất nhiều nhân sĩ ngoài Đảng khác tham gia quản lý đất nước.
Bản thân tôi cũng là một người ngoài Đảng, có lần tiếp xúc cử tri trước ngày bầu cử Quốc hội đã bị một người dân chất vấn: “Trong lý lịch của ông ghi 19 năm là Chiến sĩ thi đua, vậy bây giờ ông hãy nói thật với cử tri là ông đã phạm lỗi gì mà không được vào Đảng?”.
Lúc đó tôi trả lời: “Nước ta còn trên 83 triệu người chưa phải là đảng viên, nhẽ nào họ đều là người phạm lỗi?”.
Tôi mong muốn Đảng và Nhà nước cần lựa chọn ra những trí thức đáng tin cậy, dù là đảng viên hay không đảng viên.
Hà Nhân - Cao Nhật

Đọc sách Có 500 năm như thế của Hồ Trung Tú

Nguồn: 
Lịch sử luôn được nhận thức lại theo những quan niệm mới về sử học, khi có sự khám phá mới, qua những di chỉ khảo cổ học và các trầm tích của văn hoá được lộ thiên.Việc hoài nghi về giá trị nhận thức lịch sử là đề tài được các nhà nghiên cứu lịch sử và văn hoá thường đặt ra. Công trình Có 500 năm như thế bản sắc Quảng Nam từ góc nhìn phân kỳ lịch sử của Hồ Trung Tú không nằm ngoài tư duy đó. Nhưng quan trọng là Hồ Trung Tú đứng ở góc độ nào ? Phương pháp luận sử học nào để đưa ra kiến giải mới ? Bởi vì, những tri thức lịch sử ghi nhận sự biến mất của người Champa ở xứ Quảng đã được xác lập từ hàng bao thế kỷ qua. Bằng thao tác khoa học nghiêm túc, khảo cứu thực địa, Hồ Trung Tú đã chọn một góc nhìn để tiếp cận vấn đề. Đó là phương pháp phân kỳ lịch sử và ngôn ngữ học (ngữ điệu, giọng điệu, phương ngữ) để chứng minh người Champa vẫn còn hiện diện trên chính mảnh đất của tổ tiên họ. Kết quả nghiên cứu này, đã tạo tiền đề cho những hiểu biết về người Champa sinh sống trong vùng ngoại biên Champa (khi không còn chủ quyền), và qua những dẫn chứng về địa danh, nơi tụ cư của người Champa, những gia phả còn lưu trữ trong các gia đình xứ Quảng, không thể phủ nhận sự tồn tại của gia đình, dòng họ Champa được. Mặc dù, sự có mặt của họ qua các dạng thức khác nhau như làng Chăm, họ Chăm, cách phát âm tiếng Việt lơ lớ và cả sự pha trộn huyết thống (nhân chủng) của hệ quả từ cuộc hôn nhân Việt-Chăm .v.v.
Trở lại vấn đề lịch sử, có sáu cột mốc đáng chú ý về quá trình tản cư của người Champa đồng thời cũng là quá trình chiếm cư của người Việt, khiến cho họ trở nên mờ nhạt hẳn trên chính mảnh đất đã sản sinh ra họ. Hệ quả này, chính là việc giải quyết những mâu thuẫn, bất hoà không thành công giữa Champa-Việt Nam. Ở đây, tôi không gọi là hệ luỵ của con đường Nam tiến, mà tôi cho rằng: Đó là quá trình Việt hoá và giải Việt hoá của Champa. Đầu thế kỷ thứ X, Việt Nam bắt đầu giành được quyền tự chủ dân tộc, từng bước thoát khỏi sự thống trị của Trung Hoa. Để kiến thiết lại đất nước bị hơn 1000 năm chịu cảnh vơ vét khủng khiếp của tập đoàn thống trị phương Bắc. Việt Nam phải làm lại từ đầu, làm thế nào để phục hưng nhanh chóng nền kinh tế đất nước, giải quyết cảnh khốn khổ, thiếu ăn trong nhân dân do thiên tai, hạn hán, mất mùa, lũ lụt, chiến tranh gây ra. Các dòng họ Việt Nam từ Khúc, Dương, Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, Mạc, Trịnh và Nguyễn thay phiên nhau lãnh đạo đất nước bằng những cuộc cải cách về kinh tế, chính trị và hành chính, họ muốn tiến ra Bắc nhưng không thể làm nổi, lấn ra biển hay vượt non cao thì chẳng đơn giản chút nào, chỉ còn con đường duy nhất là mở rộng hướng mưu sinh trôi dần về phương nam bằng các cuộc tấn công quân sự lẫn chính trị với quy mô lớn vào Champa và họ đã thành công.
Lần 1: Vào năm 1044, viện cớ là quân Champa xâm phạm biên cương, vua Đại Việt cầm đầu một đoàn quân hùng mạnh sang xâm chiếm Vijaya, tàn phá kinh thành Đồ Bàn và giết chết vua Champa trong trận chiến [5:15]. Ngày 24-2-1069 Vua Lý Thánh Tông hạ chiếu thân chinh Chiêm Thành và bắt sống được vua Chiêm là Chế Củ. Nhưng Lý Thánh Tông đã trả lại tự do cho Chế Củ sau khi vua Champa hứa nhận thần phục và cắt một phần đất đai sáp nhập vào bản đồ Đại Việt. Phần đất đó, Đại Việt sử kí toàn thư ghi là ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh [3:85]. Tức là phần lãnh thổ chạy dài từ dãy Hoành Sơn (Quảng Trị) đến đèo Lao Bảo ở phía Bắc của Huế. Từ đó, đèo Lao Bảo đã trở thành biên giới chính thức giữa Champa và Đại Việt [5:15].
Lần 2: Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên –Mông của Đại Việt ở cuối thế kỉ XIII, nhà Trần đã nhận được sự hiệp thương quân sự từ Champa cùng chống lại một kẻ thù chung. Chiến thắng trước đoàn quân Nguyên-Mông hùng mạnh quan hệ giữa Đại Việt và Champa càng trở nên tốt đẹp và thân thiết vượt trên mức ngoại giao bình thường. Năm 1301, Thượng hoàng Trần Nhân Tông nhân có chuyến sứ bộ Chiêm Thành về nước đã theo sang chơi từ tháng 3 đến tháng 11 mới trở về. Thời gian lưu lại rất lâu, tới 8 tháng, và nhân dịp này, Thượng hoàng nhà Trần đã hứa gả con gái của mình là Huyền Trân công chúa cho vua Chế Mân mà trong lịch sử Champa gọi là hoàng tử Sri Harijit lên ngôi vua xưng hiệu Jaya Sinhavarman III [3:128]. Đến năm 1306 hôn lễ được tổ chức với đồ sính lễ rất hậu của bên nhà trai gồm “vàng, bạc, hương quý, vật lạ” và hai châu Ô và Lý sau đổi tên là châu Thuận và Hoá, sáp nhập vào bản đồ Đại Việt, nay là nam Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Cuộc hôn nhân chính trị này kéo dài chưa đầy một năm thì Jaya Sinhavarman III từ trần trong một khung cảnh vô cùng mờ ám, để rồi Huyền Trân tìm cách chạy trốn về Thăng Long với Trần Khắc Chung mà chưa ai hiểu nguyên nhân nào để giải thích [5:18].
Lần 3: Chứng kiến câu chuyện Huyền Trân và việc cắt đất của Champa cho Đại Việt, Chế Bồng Nga mới lên ngôi vào năm 1360 quyết tâm tập trung lực lượng quân sự và chính trị để đòi lại phần lãnh thổ bị mất. Trong vòng 30 năm, ít nhất có 15 lần trận đánh lớn. Có thời gian 8 năm liền (1375-1383), năm nào cũng đánh, trong đó có hai lần tấn công đến tận kinh đô Thăng Long, các vua Trần mấy phen phải rời bỏ kinh thành và đem cất giấu của cải đi nơi khác [3:131]. Năm 1390, nhân lúc triều đình nhà Trần rối ren, Chế Bồng Nga lại đem quân đánh Đại Việt. Nhưng sự bất đồng đã xảy trong hàng ngũ Champa. Một viên quan Chăm đã bỏ chạy sang phía Đại Việt dịp này và báo cho biết thuyền của Chế Bồng Nga. Tướng Trần Khát Chân đã chỉ huy quân bắn trúng thuyền làm cho vua Champa chết tại trận. Năm 1400, Hồ Quý Ly giành ngôi từ dòng họ nhà Trần, liên tục gây sức ép với Champa. Trong tình thế đó, Ba Đích Lai (có lẽ là phiên âm của Adhiraja) đã phải cắt 2 châu Chiêm Động và Cổ Luỹ để cầu hoà. Hồ Quý Ly lấy đất ấy để lập ra 4 châu (Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa) và gộp làm lộ Thăng Hoa. Chiêm Động là Quảng Nam và Cổ Luỹ là Quảng Ngãi ngày nay. Lại lấy cả thượng du để lập đất Tân Ninh. Biên giới phía Bắc của Champa lui vào đến đất Bình Định ngày nay [3:132].
Lần 4: Vương quốc Champa càng ngày càng đi đến con đường suy vong, vừa quân sự lẫn chính trị. Một mặt, phải đối đầu với con đường xâm lăng từ phía bắc, mặt khác phải giải quyết những xung đột, mâu thuẫn trong nội bộ. Viện cớ là quân Champa quấy nhiễu ở biên giới, Đại Việt quyết định với bất cứ giá nào là phải xâm chiếm kinh thành Vijaya (thành Đồ Bàn) thuộc tỉnh Bình Định ngày nay [5:22]. Năm 1471, đích thân vua Lê Thánh Tông đem 26 vạn quân đi đánh Champa. Trận đánh toàn thắng, chiếm được kinh đô Vijaya, bắt được vua Bàn La Trà Toàn [3:135]. Khi làm chủ tình hình ở Vijaya, chính vua Lê Thánh Tông quyết định phong vương cho Bố Trì Trì quyền cai trị trên lãnh thổ Champa còn lại, đó là tiểu vương quốc Panduranga (Ninh Thuận và Bình Thuận) và Kauthara (Phú Yên và Nha Trang). Chính vì thế, Champa vẫn là một vương quốc độc lập, nhưng độc lập trong hệ thống chư hầu của Đại Việt. Sau ngày chiếm đóng Vijaya, vua Lê Thánh Tông đã gởi đến khu vực này hàng ngàn quân điền vừa phát hoang để khai thác kinh tế vừa phòng thủ để chống lại sự nổi dậy của Champa chinh phục trở lại đất đai của mình bị mất. Vua Lê Thánh Tông cũng còn áp dụng chính sách đồng hoá dân tộc Champa còn sống trong vùng bị chiếm đóng bằng cách đưa hàng ngàn người gốc Việt là những thành phần trộm cướp hay vi phạm pháp luật sang sống trà trộn với dân tộc Champa. Nếu hôm nay không còn ai, từ Quảng trị cho đến Nha Trang, dám nhận diện mình là dân tộc Champa nữa, thì dữ kiện này chỉ là kết quả của chính sách Việt Nam hoá do vua Lê Thánh Tông tạo nên [5:23]
Lần 5: Đến thế kỉ XVI, Champa bao gồm một dãy đất chạy dài từ biên giới Sài Gòn đến đèo Cù Mông (phía nam tỉnh Bình Định) vẫn còn đủ điều kiện để nuôi dưỡng một đoàn quân khá hùng mạnh. Vì thế, năm 1594, vua Champa (dường như đã theo Hồi Giáo), đã gởi một đoàn quân sang giúp vua Johor, một tiểu vương ở miền Nam bán đảo Mã Lai, để chống lại thực dân Tây Ban Nha ở Malaka. Chính nhờ quân lực hùng mạnh này, Po Nit (1603-1613) đã quyết định xuất trận tiến đánh Quảng Nam, một khu vực hành chính nằm trong lãnh thổ nhà Nguyễn. Trước hành động này, chúa Nguyễn cũng xuất quân để chinh phạt Champa, xâm chiếm khu vực Phú Yên và dời biên giới phía nam của mình đến Cap Varella, ở phía bắc Nha Tranh. Sau đó, chúa Nguyễn biến đổi lãnh thổ này thành Dinh Trấn Biên và đưa hơn ba chục ngàn tù binh của nhà Trịnh sang khu vực này để phát hoang khai thác kinh tế [5:24]. Năm 1653, vua Champa là Po Nraop chuẩn bị lực lượng quân sự của mình để tuyên chiến với chúa Nguyễn, thu phục lại khu vực Phú Yên bị rơi vào tay của chúa Nguyễn vào năm 1611. Trước tình thế này, chúa Nguyễn đã gởi một đoàn quân hùng mạnh sang tấn công Champa, tiến đến sông Phan Rang, bắt được vua Po Nraop. Nhân cơ hội này, chúa Nguyễn cũng xâm chiếm vùng Nha Trang và dời biên giới của mình đến khu vực Cam Ranh. Thế là tiểu vương quốc Kauthara lại rơi vào tay nhà Nguyễn và khu vực này bị biến đổi thành Dinh Thái Khang và Diên Khánh trong hệ thống hành chính nhà Nguyễn. Vì thế, ngôi đền thiên liêng Po Ina Nagar được vua Champa quyết định chuyển về Phan Rang để thờ phượng ngày nay nằm ở làng Hữu Đức [5:26]. Như vậy, phần lãnh thổ cuối cùng của Champa chỉ bó hẹp trong tiểu vương quốc Panduranga.
Lần 6: Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy hiệu là Gia Long, lập ra triều Nguyễn, đóng đô ở Phú Xuân (Huế), cho đổi tên nước là Việt Nam (năm 1804). Tổ chức bộ máy nhà nước từng bước được hoàn thiện, lần đầu tiên có được một hệ thống hành chính địa phương thống nhất trên một lãnh thổ rộng lớn hơn bao giờ hết. Ban đầu Gia Long tạm giữ các đơn vị dinh, trấn cũ. Riêng 11 trấn Bắc Hà gộp thành một tổng trấn gọi là Bắc Thành, 5 trấn cực nam cũng gộp thành một tổng trấn gọi là Gia Định Thành. Đến năm 1832, Minh Mạng xoá bỏ cấp thành, nhất loạt chia cả nước thành 30 tỉnh và 1 phủ Thừa Thiên là nơi đóng kinh đô [2:230]. Như vậy, công cuộc cải cách hành chính của vua Minh Mạng đã xoá bỏ tiểu quốc Panduranga-Champa trên bản đồ Đông Dương, chia lại đất đai này thành hai huyện An Phước và Hoà Đa trực thuộc tỉnh Bình Thuận [5:31]. Thế là, phần lãnh thổ cuối cùng của tiểu quốc Panduranga không được thừa nhận nữa kể từ năm 1832. Việc cải cách hành chính này vấp phải sự phản kháng rất lớn của người Chăm, được phản ánh trong các tác phẩm văn chương sáng tác vào thời kì này như Ariya Gleng Anak, Ariya Tuen Phaow. Từ đó, người Chăm trở thành dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Theo thời gian sự hoà hợp dân tộc Việt-Chăm ngày càng khăng khít. Người Chăm đã trở thành một bộ phận quan trọng cấu tạo nên lịch sử Việt Nam.
Từ các sự kiện lịch sử trên cho thấy, quá trình Việt hoá diễn ra khá chậm chạp và không liên tục, thường xuyên bị đứt đoạn. Mặc khác, những lần khôi phục được phần lãnh thổ bị chiếm đóng, Champa tiếp tục trụ đứng trên chính mảnh đất truyền thống của mình. Điều này có được là nhờ Champa biết tận dụng tình hình suy thoái, rối ren, bất ổn trong nội bộ Việt Nam và những lúc Trung Quốc quay trở lại đặt nền thống trị lên Việt Nam. Cụ thể là: Từ năm 1075-1077 nhà Lý bị nhà Tống xâm lược bằng quân sự, hơn 30 năm (1258-1288) nhà Trần đứng trước cuộc tiến công của quân Nguyên-Mông, Việt Nam mất nước thời nhà Hồ vào tay nhà Minh (Trung Hoa) hơn 20 năm (1407-1427), các cuộc tranh chấp quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến Việt Nam dẫn đến cuộc nội chiến kéo dài mà không phân được thắng bại như nội chiến Nam-Bắc triều (1545-1592) giữa nhà Mạc với dòng dõi nhà Lê, nội chiến Trịnh-Nguyễn (1627-1672), Trịnh-Nguyễn qua phân (1672-1786) mỗi người một bờ cõi lấy sông Gianh làm giới tuyến, phong trào nông dân Tây Sơn (1771-1788), chỉ đến khi Nguyễn Ánh mới xác lập được triều đại nhà Nguyễn (1802-1884) thống nhất được Việt Nam như ngày nay. Những lúc Việt Nam bất ổn, là khoảng thời gian để Champa phục hưng về kinh tế, quân sự lẫn bang giao. Triều đại Po Rame đã xây dựng ngôi tháp Champa ở thế kỷ XVII, sau hơn 300 năm đứt đoạn, không một công trình kiến trúc đền tháp nào được dựng lên là một minh chứng cho lập luận trên.
Như vậy, trong diễn trình lịch sử Việt Nam chưa bao giờ là chiều dài thẳng băng. Nên có thể nói, người Việt không thể quản lý nổi vùng đất mới chiếm cư được. Hay nói cách khác, những vùng đất mới chiếm được chỉ là vùng đất kimi, tức là đường biên giới lỏng lẽo, đôi khi được uỷ thác cho các thủ lĩnh địa phương cai quản. Và cứ mỗi lần chịu sức ép từ Việt Nam, Champa buộc phải tản cư ra biển đảo, rút sâu vào vùng rừng núi của dãy Trường Sơn và lùi dần về phần lãnh thổ phía nam. Khi tình hình ổn định trở lại, họ sẽ quay về vùng đất cũ. Đây là cách giải Việt hoá mà Champa thường tiến hành. Bên cạnh đó, một bộ phận nhỏ chấp nhận hợp tác với Việt Nam để nhận ân sủng về chức tước hay được làm chủ trên phần đất chiếm cư của Champa để hàng năm phải chịu cống nạp thuế má. Chính lực lượng trụ lại (có thể là dòng tộc hay nông dân Champa) này đã giải Việt hoá bằng cách đồng hoá Việt Nam trở lại bằng chính văn hoá Champa. Xem qua các phù điêu đời Lý-Trần phần lớn đều chạm khắc các hình tượng Phật giáo (toà sen, lá đề, sóng nước), hình tượng các tiên nữ múa hát, các hình tượng rồng uốn khúc (loại rồng giun đơn giản và khoẻ khoắn). Các bức phù điêu chạm khắc gỗ nổi tiếng ở chùa Thái Lạc và chùa Phổ Minh. Tại khu lăng vua Trần, có nhiều người và thú vật bằng đá. Trong điêu khắc Lý-Trần, có ảnh hưởng của nhiều yếu tố mỹ thuật Champa [4:104]. Một số yếu tố văn hóa Chăm đã có mặt trong văn hoá Đại Việt như loại vải lĩnh (dệt ở Trích Sài, do một cung nữ Chăm truyền nghề). Các nhạc cụ trống cơm, đàn Ba lỗ, các điệu múa Tây thiên, các điệu hò Huế, các mô típ điêu khắc Garuda (chim thần), makara (thuỷ thần), kinnari (người đánh trống), apsara (tiên nữ) được tìm thấy ở chùa Phật Tích. Các truyện cổ tích Việt như Dạ thoa vương, Sọ dừa có nguồn gốc Chăm. Các thánh mẫu Bà chúa Ngọc (Hòn Chén, Huế) là những hình ảnh dung hợp của Thiên Yana (Chăm) và Bà chúa Liễu (Việt) [4:107]. Hơn thế nữa, quá trình khai quật kinh thành Thăng Long đã phát hiện nhiều di vật thuộc văn hoá Champa như viên gạch có khắc chữ Chăm, đầu rồng bằng gốm đất nung.v.v.
Tác phẩm Có 500 năm như thế bản sắc Quảng Nam từ gốc nhìn phân kỳ lịch sử của Hồ Trung Tú, không phải là thể loại nghiên cứu văn hoá xứ Quảng, cũng không phải là công trình lịch sử khảo cứu về hoạt động sống của người Champa trong khoảng thời gian 500 năm (1306-1802) khi Việt Nam đã xác lập chủ quyền trên lãnh thổ Champa. Mà tác giả Hồ Trung Tú, chủ yếu tập trung khẳng định có lớp cư dân Chăm-Việt sống hoà hợp với nhau, thậm chí các di dân Việt mới chiếm cư chỉ là thiểu số, chứ không phải người Champa thua trận, số còn sống sót bỏ đi hết, để lại vùng đất đai hoang vu vắng bóng người (land no man) – Người Chàm vẫn là số đông dân cư của vùng đất từ Thanh Chiêm vào Cổ Luỹ, tức nam Quảng Nam và Quảng ngãi ngày nay [1:103].
Từ đó, tác giả Hồ Trung Tú kết luận, người Champa vẫn giữ gìn từng mẩu bản sắc của cha ông trong sự thua kém ấy. Chỉ có thể trả lời cho sự thành công đó chính là nhờ vào số lượng đông đúc mà họ đã ở lại. Thế nhưng 143 năm dưới triều vua Nguyễn đã khiến họ đã phải từ bỏ tất cả, vì lý do gì chúng ta vẫn chưa thể biết, chỉ còn lại phảng phất đâu đó trong tính cách người Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên một nét văn hoá, tính cách bất chợt lộ ra, nhiều khi xa lạ như người nước ngoài, khó nhọc diễn đạt ý tưởng, thô mộc trong ứng xử, chỉ lấy sự chân thành để bù đắp, lấy sự quyết liệt để thay thế cho sự tinh tế thị thành [1:219].
Tóm lại, việc nhận thức lại lịch sử đã khó khăn và phức tạp lắm rồi. Huống chi, Hồ Trung Tú lại đi minh chứng người Việt xứ Quảng là dân Chàm cả. Mặc dù, ông chỉ đưa ra hai tiêu chí căn bản trong việc xác định tộc người là lịch sử và ngôn ngữ. Nhưng không tiêu chí nào bằng việc tự nhận mình thuộc tộc người Chăm hay Việt. Cho dù việc quay trở về tộc người chính thể đối với người Việt ở miền Trung nói chung và xứ Quảng nói riêng không còn quan trọng và cần thiết nữa. Ai muốn nhận tộc người nào cũng được, miễn sao trong tâm thức của họ còn đọng chút tâm hồn của quá vãng, không nhất thiết như Phan Ngọc Hoan người Quảng Trị về sau gia đình chuyển về Bình Định đổi cả họ và tên thành Chế Lan Viên, như vậy rồi còn chưa thoả mãn, tính tự yêu cao lắm, còn sáng tác cả một tập thơ Điêu Tàn để nhắc nhở về dòng máu Chàm trong ông.
Những biến động xảy ra trong lịch sử Champa, đã làm cho địa bàn cư trú của họ bị xáo trộn rất lớn, kẻ ra Bắc người xuôi Nam, phần lên Tây Nguyên phần vượt biển ra nước ngoài. Qua việc xác định người Chàm ở xứ Quảng của Hồ Trung Tú, có thể sẽ trở thành tiền đề cho những khảo cứu về người Champa ở khắp tỉnh, thành Việt Nam và trên thế giới trong tương lai. Lịch sử đã ghi nhận khả năng giải Việt hoá trong văn hoá Champa là rất mạnh mẽ, ngây cả trong điều kiện sinh sống trong vùng ngoại biên văn hoá truyền thống. Ngược lại, ngày nay người Chăm Panduranga vẫn sinh sống thành từng palei, gìn giữ nếp gia đình và sinh hoạt cộng đồng qua lễ hội và tôn giáo, nhưng chỉ mới chưa đầy 60 năm tiếp nhận giáo dục Quốc ngữ (tiếng Việt) mà khả năng diễn đạt bằng tiếng mẹ đẻ của người Chăm rất hạn chế, lẫn lộn Chăm-Việt trong từng câu nói. Thậm chí, một số gia đình Chăm dùng tiếng Việt làm ngôn ngữ giao tiếp, thay đổi luôn họ Chăm thành họ người Việt, người Hoa (Đàng = Đặng, Hán = Hàn, Nại = Mai, Trượng = Trương, hay dùng thẳng họ Nguyễn). Đây quả là việc đáng báo động về ý thức tộc người. Vậy tại sao tổ tiên Chăm vẫn ý thức được nguồn gốc tộc người ? Trong khi đó, một bộ phận Chăm chối bỏ tộc người mình ? Nền văn minh Champa đã để lại những công trình kiến trúc, điêu khắc, thách thức tư duy cả nhân loại trong việc khám phá kỹ thuật xây dựng đền tháp bằng vật liệu gạch, đứng sừng sững hàng ngàn năm, vẫn giữ nguyên vẹn màu hồng tươi đến kinh ngạc. Âm nhạc và múa Champa được xuất dương sang các nước Nhật Bản, Campuchia, và để lại nhiều dấu ấn trong nền âm nhạc Việt Nam. Như vậy thôi cũng đủ thấy sức lao động và khả năng sáng tạo của tổ tiên rất sáng ngời. Nhưng hậu duệ Champa còn co cụm ở miền đất Panduranga, Saigon hay phương trời hải ngoại có hãnh diện không khi đứng trước sự kì vĩ của đền tháp Champa dọc khắp Việt Nam từ miền Trung lên Cao Nguyên (highland)./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hồ Trung Tú. 2011. Có 500 năm như thế bản sắc Quảng Nam từ gốc nhìn phân kỳ lịch sử. Hà Nội:Nxb. Thời Đại.
2. Huỳnh Công Bá. 2004. Lịch sử Việt Nam. Huế: Nxb. Thuận Hoá.
3. Lương Ninh (Chủ biên). 2008. Lịch sử Đông Nam Á. Nxb. Giáo dục.
4. Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biên). 2007. Tiến trình lịch sử Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Giáo dục.
Nhiều tác giả. 1999. Champaka số 1. Hoa Kỳ: IOC ấn hành.

Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2011

Một số bài viết đoạt giải cuộc thi 'Ước mơ của tôi'


1/ Tôi đã bơm xe, bán nước vỉa hè kiếm tiền du học
Không có tiền, tôi lao vào làm đủ thứ nghề, từ bơm xe, bán quán nước vỉa hè hay theo chân bác tôi đi làm đồ kim khí để đăng ký học thêm tiếng Anh, mơ một ngày được đi du học.
Tuổi thơ tôi gắn liền với đòn roi, với mùi chua cay của rượu và mùi hôi của khói thuốc. Tất cả đều xuất phát từ bố tôi. Ông không có công ăn việc làm ổn định, suốt ngày chỉ rượu chè rồi chửi mắng vợ con. Mọi gánh nặng gia đình vì thế đều dồn hết lên đôi vai gầy của mẹ.
Tôi vẫn còn nhớ như in tối hôm đó, ba mẹ con tôi đã chạy thật nhanh ra khỏi nhà để thoát khỏi bố, thoát khỏi sự tủi cực đau đớn cả về mặt thể xác lẫn tinh thần mà bao năm qua mẹ con tôi đã phải chịu đựng. Năm ấy tôi mười tuổi, bố mẹ tôi chia tay…
Tôi và chị gái được gửi về quê ngoại, còn mẹ vẫn tiếp tục ở lại Hà Nội đi làm, cuối tuần tranh thủ về thăm chúng tôi. Có những đêm ốm sốt, tôi thèm lắm một bàn tay của mẹ, chỉ cần một cái sờ trán thôi là tôi cũng thấy đủ lắm rồi.
Mẹ hy sinh vì chúng tôi nhiều lắm, có hôm tận hai giờ sáng mẹ mới về tới Ninh Bình. Xe khách chiều hôm trước mẹ chỉ đủ tiền về tới Phủ Lý. Mẹ định bụng sẽ đạp xe tiếp từ đó về nhà, nhưng ông trời đã không thương mẹ. Xe đạp bị tuột xích giữa đường, mẹ vừa dắt xe vừa khóc…
Hè năm đó mẹ định để chúng tôi nhập học ở quê, nhưng chỉ trước hôm khai giảng đúng một ngày, mẹ đã quyết định đưa chúng tôi quay trở lại Hà Nội mặc dù vẫn chưa biết sẽ ở đâu. Đó cũng là bước ngoặt thay đổi cuộc đời tôi.
Cơ quan mẹ cho mượn tạm một căn phòng nhỏ ở khu nhà kho cỏ mọc um tùm để ở. Với người khác thì nó thấp kém nhưng đối với chúng tôi đó là cả một thiên đường. Hai chị em tôi cố gắng học thật giỏi để mẹ vui. Có những đêm chúng tôi cùng nhìn lên bầu trời, ngắm nhìn những ông sao bé nhỏ mà thầm ước rằng sau này sẽ kiếm được nhiều tiền để đỡ đần mẹ.
Tôi thi đỗ cấp 3 vào khối chuyên Toán - Tin ĐH Khoa học Tự nhiên Hà Nội. Bạn bè cùng lớp với tôi toàn là những nhân tài, họ xuất thân từ những ngôi trường nổi tiếng trên toàn miền Bắc, có lẽ chỉ mỗi mình tôi đi lên từ một ngôi trường làng ngoại thành Hà Nội.
Nửa năm đầu lớp 10 tôi đã bị choáng vì cảm giác không theo kịp các bạn. Họ dường như là những người biết tuốt. Bài nào thầy ra họ cũng làm một cách nhanh chóng, còn tôi cứ mãi loay hoay tìm lời giải. Phải mất một thời gian rất lâu tôi mới bắt kịp nhịp học của các bạn, và chứng tỏ được khả năng của mình.
Năm lớp 11, 12, có nhiều bạn trong lớp tôi đã tìm được những suất học bổng toàn phần ở nhiều nước trên thế giới để sau khi tốt nghiệp họ có thể đi học đại học ngay. Tôi thấy thật thán phục họ. Tôi thấy tự ti và kém cỏi. Học chuyên Tin nhưng thậm chí đến tạo một cái email như thế nào tôi cũng không biết thì làm sao biết tìm học bổng. Tất cả tài sản mà tôi có là một chiếc máy tính 486 cũ mà mẹ tôi mang từ cơ quan về, cũng chẳng có điều kiện mà tiếp xúc với Internet.
Nhìn các bạn tôi thấy thèm được như họ, và tôi ước mơ được đi du học... Nhưng ước mơ đó có quá xa vời khi từng bữa cơm hàng ngày mẹ vẫn phải chắt chiu tiết kiệm. Tôi chỉ biết, tôi đã theo đuổi giấc mơ ấy trong suốt năm năm tiếp theo của tuổi trẻ.
Tôi bắt đầu nhận ra mình cần phải học tốt tiếng Anh. Nhưng mà lấy tiền đâu ra để học? Tôi lao vào làm đủ thứ nghề, từ bơm xe đạp, bán quán nước vỉa hè hay theo chân bác tôi đi làm đồ kim khí. Nhưng tất cả vẫn không thể đủ để tôi có thể đăng ký một khóa học tiếng Anh tốt. Năm nào số tiền tôi kiếm được cũng chỉ đủ học Streamline hoặc Headway buổi tối.
Tuy chưa đạt được mục tiêu, nhưng tôi thấy mình trưởng thành hơn, tự lập hơn, và quan trọng hơn là thời gian đi làm tôi đã có dịp được tiếp xúc với những con người thú vị. Đó là bác Khôi lùn xe ôm đầu ngõ một mình nuôi hai con học đại học, là cô hàng đại lý cho tôi nợ tiền khi tôi chưa đổi được tiền lẻ cho khách, là anh chàng tôi không nhớ rõ tên tối nào cũng ngồi uống nước quán tôi chỉ để chờ đón vợ đi làm về. Tôi thấy cuộc đời ngoài kia vẫn còn nhiều điều hạnh phúc lắm.
Sau khi tốt nghiệp lớp 12, tôi và mẹ cùng đi dự một buổi hội thảo du học mà các anh chị Việt Nam từ Mỹ về chia sẻ kinh nghiệm và nói chuyện. Buổi hội thảo ngày hôm đó thực sự đã tạo ra một động lực rất lớn đối với tôi, càng làm tôi quyết tâm theo đuổi con đường du học. Thấy tôi mê quá, ngay ngày hôm sau mẹ cọc cạch xe đạp chở tôi lên một trung tâm trên phố để đăng ký học tiếng Anh. Vừa vào tới nơi, nhìn thấy tiền học phí một khóa ít nhất 100$ thì ngay lập tức tôi bảo mẹ quay về với lý do: "Con không thích học tiếng Anh nữa".
Sau đó tôi thi đỗ vào ĐH Bách khoa Hà Nội, không lâu sau, tôi nhận được một suất học bổng toàn phần sang Thượng Hải học. Lúc này tôi đã nghĩ rất đơn giản rằng sang đó mình sẽ có cơ hội được học thêm tiếng Anh. Tuy nhiên, sang tới nơi chúng tôi đã phải học đuổi một khóa tiếng Trung trong vòng 3 tháng để đủ điều kiện về ngôn ngữ. Vì có ít thời gian nên dù được nhận vào học nhưng năm đầu tôi học khá vất vả vì có nhiều từ vựng không biết. Tôi còn nhớ có những hôm thi mà đến đọc đề thi tôi cũng không hiểu hết, phải phán đoán khá nhiều.
Sang năm hai, tôi học hành vào guồng hơn. Lúc này tôi bắt đầu quay trở lại với giấc mơ du học ngày xưa của mình. Để củng cố lại vốn tiếng Anh ít ỏi, tôi bắt đầu đăng ký những lớp cơ bản nhất ở trường, mỗi kỳ học một level từ thấp lên cao. Tôi cứ duy trì như vậy và điểm tiếng Anh cũng theo thời gian cao dần lên. Lúc này tôi nghĩ đến việc phải thi lấy chứng chỉ tiếng Anh quốc tế IELTS thì mới có cơ hội đi học tiếp Master ở các nước nói tiếng Anh khác. Tôi bắt đầu tìm cách để có thể đăng ký lớp học IELTS ở Thượng Hải, nhưng vấn đề mấu chốt, đeo đuổi tôi vẫn là tiền không có.
Học bổng chỉ đủ sống, tôi cũng không muốn đặt gánh nặng này lên vai mẹ. Lúc này ở Thượng Hải có một chương trình học bổng của chính phủ dành cho sinh viên quốc tế, nếu được học bổng này thì việc học và thi IELTS của tôi không thành vấn đề. Tôi hăm hở rồi nộp hồ sơ, nhưng sau bao ngày chờ đợi, tôi trượt. Thất vọng, chán chường nhưng tôi không dễ dàng bỏ cuộc như thế. Tôi bắt tay làm lại từ đầu, chăm học hơn, ít chơi hơn, mục tiêu trước mắt là đạt được học bổng kia, để bước tiếp trên con đường chinh phục giấc mơ của mình.
Đúng một năm sau, tôi thành công. Tôi dùng toàn bộ số tiền có được để ôn luyện và đăng ký thi IELTS. Trong vòng 5 tháng liền tôi hầu như không có một ngày nghỉ. Tôi phải học cách sắp xếp thời gian hợp lý nhất để vừa đáp ứng được bài vở trên lớp, vừa có thời gian ôn thi IELTS, vừa có thời gian quan tâm tới gia đình và người yêu. Ngày nhận kết quả, tôi đã vỡ òa trong niềm vui sướng khi biết mình đã đạt IELTS 7.0. Chặng đường thứ nhất coi như đã kết thúc, tôi lại bước tiếp những bước cuối cùng trên hành trình chinh phục giấc mơ của mình: nộp hồ sơ xin học bổng Master.
Có những lúc tôi hết sạch tiền vì đã dùng tất cả cho những bộ hồ sơ. Tôi và cậu bạn cùng nhà đã có những bữa cơm chỉ có hai củ cà rốt để ăn, rồi rất nhiều lần phải muối mặt đi vay mọi người. Mỗi lần gọi điện về nhà tôi đều giấu mẹ vì tôi không muốn tóc mẹ phải bạc thêm.
Cuộc đời đã không phụ những cố gắng không mệt mỏi của tôi. Cuối cùng tôi đã thực hiện được giấc mơ của mình khi liên tiếp nhận được ba suất học bổng toàn phần tại châu Âu. Giờ tôi đang ngồi ở Amsterdam, thủ đô của xứ sở hoa Tulip xinh đẹp để viết những dòng tâm sự này.
Tôi muốn chia sẻ câu chuyện của bản thân để các bạn có thêm niềm tin và ý chí tiếp tục theo đuổi giấc mơ của mình. Tôi tin chắc rằng các bạn sẽ thành công, vì cuộc sống sẽ không bao giờ phụ lòng những người cố gắng và nỗ lực hết sức mình đâu.
Vũ Thanh Tùng (Giải nhất)
2/ Tôi mong ba khỏe dù ông đã làm tổn thương tôi
Một đêm, ba cho tôi cái bạt tai choáng váng thì những cùng cực cuối cùng trong tôi không dồn nén được nữa. Tôi bỏ nhà đi dù chưa đến ngày nhập học. Giờ ông trên giường bệnh, có lẽ không còn sức đánh tôi như xưa nữa. 
Từ bé, đối với tôi ước mơ về một gia đình trọn vẹn là thứ gì đó thật xa xỉ. Tôi đã trải qua cuộc sống bất ổn từ nhà trọ này sang nhà trọ khác cùng bố mẹ. Khi đó tôi không hiểu tại sao mình phải đi liên tục như vậy. Trong đầu óc non nớt của đứa trẻ sáu tuổi, tôi tò mò về những thứ mà tụi bạn trong lớp hay chơi. Tôi thèm sờ một con búp bê xinh xắn trên tay chúng nó, thèm được một đứa nào đó rủ "mày đi sinh nhật tao nha", nhưng thật sự chỉ có những đứa nhà giàu mới làm sinh nhật, và chúng nó chưa bao giờ mời tôi cả.
Các bạn lớp tôi tham gia học thêm tiếng Anh. Mỗi ngày đến lớp, nghe tụi nó trả lời vanh vách những gì cô giáo hỏi tôi lại ước "phải chi mình cũng được như vậy". Năm 1992–1993 thì một lớp học tiếng Anh khoảng 20.000 đồng một tháng. Thời điểm đó quả thực 20.000 đồng không phải nhỏ. Đêm đến, tôi không thể nào ngủ được vì nghĩ tới cái lớp ấy, tôi rúc vào lòng mẹ hỏi: "Mẹ ơi, mẹ cho con học tiếng Anh được không? Cô giáo nói 20.000 đồng một tháng". Mẹ tôi nói khoản tiền đó với nhà mình bây giờ là không nhỏ vì còn phải lo nhiều thứ cho tôi và em. Nếu khoảng 10.000 đồng thì mẹ có thể chắt bóp cho tôi học.
Sáng hôm sau tôi dậy thật sớm, chạy chân sáo lên trường trong lòng nuôi hy vọng rằng mình cũng học được tiếng Anh. Ra chơi, tôi chạy lên bàn cô giáo hồn nhiên hỏi: "Cô ơi, em có 10.000 đồng. Em học thêm được không cô?". Đáp lại ánh mắt đầy hy vọng của tôi, cô đáp lại thờ ơ: "Mười nghìn không học được đâu em, các bạn trong lớp mình đều đóng 20.000 đồng cả!”.
Tôi "dạ" lý nhý một tiếng trong cổ họng. Đôi mắt ầng ậc nước, cụp xuống như một đứa trẻ biết lỗi. Tôi quay lưng và chạy thật nhanh ra khỏi lớp. Đến giờ, tôi vẫn nhớ rõ mình đã khóc sưng cả mắt suốt buổi trưa hôm đó. Từ đó về sau tôi thôi không bao giờ xin mẹ đi học thêm nữa.
Những năm tháng vất vả của gia đình tôi cứ thế trôi đi, cuộc mưu sinh cơm áo gạo tiền khiến ba mẹ tôi thường cãi vã. Ba tôi cáu gắt nhiều hơn còn mẹ luôn câm lặng và chịu đựng. Khi ấy, tôi lớp 2 và đứa em gái chừng 6 tuổi vẫn còn vô tư lắm. Tôi nhớ có một chiều hai chị em khóc thét lên khi chiếc tivi cũ kỹ trong nhà cũng bán nốt.
Đó là cơ hội duy nhất tôi có thể xem bộ phim hoạt hình Vua Simba mà tôi yêu thích. Mặc dù mẹ hứa sau này sẽ mua một cái khác nhưng hai đứa buồn cả tuần liền. Rồi ba mẹ tôi đi làm ăn xa, chị em tôi về ở cùng ngoại. Tivi và phim hoạt hình Vua Simba vẫn là niềm ao ước chưa trọn vẹn.
Tôi rời xa thị thành và lũ bạn nhà giàu, trở về vùng nông thôn khô cằn đến hết quãng đời cấp hai. Ở đây dường như tôi thấy dễ chịu hơn khi chơi cùng bọn trẻ ở quê. Tôi và chúng nó cứ mỗi chiều long nhong lùa trâu ra đồng, chân đất chạy thình thịch. Có hôm tôi băng sang bụi tre, chặt củi khô bó thành bó lớn rồi gánh về cho ngoại.
Đêm đêm tôi phụ mợ bán chè. Quê ngoại nắng cháy da, mặt mũi tôi lúc nào cũng đen nhẻm. Những đứa bạn cấp hai của tôi bây giờ vẫn thường đùa "Ngày đó mày xấu tệ", nhưng tôi thương cái tuổi thơ vất vả, trong đầu lúc nào tâm niệm phải cố gắng học thật giỏi cho ba mẹ nơi phương xa yên lòng. Ngày tôi đoạt giải nhất toàn huyện cuộc thi viết thư UPU "Gửi người thân mà em yêu thương", ngoại tôi mừng chảy nước mắt.
Đó là lá thư của đứa con mong nhớ cha mẹ từng ngày khắc khoải. Có năm cận Tết ba mẹ không về, hai chị em dắt díu nhau ra ngõ khóc thút thít.
4 năm sau, ba mẹ tôi trở về xây được một cái nhà nhỏ. Cuộc sống cũng không khá hơn là bao. Tôi ý thức khi mở miệng xin mẹ từng khoản tiền. Tôi tiết kiệm, cố gắng tự học và hạn chế đi học thêm vì sợ mẹ vất vả. Ba tôi từ ngày về ông vẫn cáu gắt và giận dữ vô cớ như nó đã ăn vào máu. Ông không thể nói cùng tôi một lời dịu dàng, chưa từng cho tôi tiền để ăn học. Ông chỉ muốn tôi nghỉ học mỗi khi tôi đến kỳ đóng học phí.
Tôi sợ và dường như chẳng bao giờ dám mở lời với cha. Ông là người độc đoán và sẵn sàng trút lên đầu tôi những đòn roi mà năm tháng trôi qua nó đã trở thành vết thương trong lòng tôi không thể nào lành được. Tôi chỉ có thể nói cùng mẹ. Thương mẹ cực, một buổi đi học, một buổi tôi phụ người ta bán ngoài chợ. 4 rưỡi sáng tôi thức dậy, ôm những xô nhựa lớn ra chợ khi mọi người vẫn chìm trong giấc ngủ.
Bà chủ trả tôi mười nghìn, cộng với hai nghìn tiền ăn sáng tất cả là mười hai nghìn đồng một ngày. Tôi mua được chiếc xe đạp cũ để đi học sau khi tích góp được một trăm tám mươi nghìn từ những ngày đi làm thuê. Đó là thứ đầu tiên tôi tự mua được bằng sức lao động của mình.
Càng lớn tôi càng quyết tâm vào đại học, ước mơ thoát khỏi sự vất vả và đay nghiến từ ba tôi. Thoát khỏi những tháng ngày tôi cùng cực trong trầm cảm và mặc cảm cùng bạn bè. Thoát khỏi những lo sợ bị ba tôi đốt hết sách vở.
Năm tôi chuẩn bị tốt nghiệp tú tài thì ông đuổi tôi ra khỏi nhà. Đêm lạnh, đứa con gái 18 tuổi không biết về đầu. Tôi lang thang trên chiếc xe đạp gần 10 cây số về nhà ngoại, không một cuốn tập sách nào được mang theo. Tôi ngủ trong tiếng nấc nghẹn ngào và tự nhủ: "Cố lên để mai còn thi sớm".
Tôi vượt qua kỳ thi tốt nghiệp và đỗ vào đại học bằng tất cả nỗ lực của mình. Còn khoảng nửa tháng tôi vào trường trong TP HCM, ba tôi dắt về một thằng con trai và bảo tôi gọi nó bằng anh. Đó là một cú sốc với tôi khi biết mình còn một người anh nữa. Thật khó khăn khi đột ngột bắt tôi thừa nhận một người anh cùng cha khác mẹ. Tôi và nó thật giống nhau và cùng giống ba tôi. Thật nghiệt ngã, đến bây giờ tôi vẫn không thể mở miệng gọi nó bằng anh được.
Từ ngày nó về sống cùng nhà tôi, tôi càng trở nên lầm lì và ăn đòn nhiều hơn. Một đêm, ba cho tôi một cái bạt tai choáng váng thì những cùng cực cuối cùng trong tôi không dồn nén được nữa. Tôi bỏ nhà đi dù chưa đến ngày nhập học. Mẹ cũng khóc hết nước mắt khi sáng ra tôi và tất cả đồ đạc đã ra đi. Tôi đón xe vào thành phố, đó là lần đầu tiên tôi đi Sài Gòn.
Tôi xuống xe gần một siêu thị lớn ở Thủ Đức khi mới gần 4h sáng, trong lòng sợ hãi tột độ. Rất may tôi có một khoản tiền nhỏ dành dụm và mẹ cho lúc trước. Tôi tìm nhà trọ, làm hồ sơ nhập học và đi kiếm việc làm trang trải cuộc sống. Tôi làm tất cả mọi công việc từ phụ quán sinh tố, bán trà sữa, gia sư cho đến làm bán thời gian trong nhà sách để có tiền trang trải.
Những ngày tháng vất vả không thể quên, có những tháng ăn mì gói hết 3 tuần. Nhiều hôm tôi phụ quán gần trường, đám bạn chuyện trò rôm rả còn tôi phải bưng trái cây cho tụi nó. Nhiều đêm quá mệt mỏi, tôi nằm nghĩ có khi nào mặt trời không chiếu qua cuộc đời mình nữa?
Quãng đường đại học của tôi đầy chông gai, tôi thật sự biết ơn những người bạn đã luôn cùng tôi san sẻ, cảm thông và giúp đỡ tôi rất nhiều trong cuộc sống. Nhiều người nhìn tôi và không hề biết cuộc đời tôi chừng ấy tuổi đã lang bạt nhiều. Có ngày tôi cười nhưng đêm về nước mắt đẫm gối. Tôi ký hợp đồng chính thức làm biên tập viên và PR cho một công ty bất động sản khi còn học kỳ cuối của đại học. Ra trường tôi đầu quân về đó và làm đến bây giờ.
24 năm trôi qua, mặc dù tôi chưa được gọi là thành công nhưng cuộc sống đã dần ổn định. Tôi trân trọng những gì mình làm được. Tôi góp nhặt và quý trọng từng đồng tiền dù nhỏ nhất. Tôi thương những người phục vụ bàn, những cụ già bán vé số, những em nhỏ ăn xin, những người tàn tật… Ai cũng có một cuộc đời, ít ra tôi còn may mắn hơn họ.
Giờ đây tôi vẫn luôn ước mơ về một gia đình trọn vẹn. Nhìn ba tôi trên giường bệnh, ông có lẽ không còn sức mà đánh tôi như xưa nữa. Đôi mắt ông đỏ hoe khi thỉnh thoảng tôi về cho ông ít tiền. Mặc dù những đau đớn và vết thương ông gây ra khiến tôi không thể nào quên được nhưng sâu trong lòng mình, tình cảm của đứa con dành cho cha đẻ của mình khiến tôi không còn oán trách ông nữa. Tôi cầu mong ông trời phù hộ để ông được khỏe mạnh. Tôi không muốn ông nằm bất động trên giường mãi.
Bác sĩ nói năm nay ba tôi khó qua khỏi. Tôi khóc trong điện thoại khi nghe điều đó. Mong ước lớn nhất bây giờ đối với tôi là ông có thể khỏe mạnh mà mắng tôi, tôi sẽ khóc thật to và nói rằng: "Ba, con đã về".
Còn ông tôi mới còn có một gia đình.
Phạm Thị Ngọc Thi
3/ Viết báo giúp tôi vượt lên mặc cảm tật nguyền
Vẫn chưa biết ngày mai rồi sẽ ra sao nên tôi sẽ sống hết mình như đang là ngày cuối cùng của đời tôi vậy, sao cho một ngày kia khi trở về với cát bụi, trong lúc mọi người khóc thì tôi có thể nở nụ cười thanh thản. Vì rằng mình đã sống những tháng ngày đầy ý nghĩa và có ích.
Tôi thật sự bi quan và chán nản khi biết rằng bệnh tình của mình không thể nào chữa khỏi, bi đát hơn là càng ngày nó càng lấy đi của tôi thật nhiều thứ quý giá mà lẽ ra những cái đó thật đơn giản khi con người ta khỏe mạnh bình thường. Tôi không thể chạy nhảy hay đi lại như trước được nữa, mà thay vào đó là những tháng ngày dài nằm liệt giường liệt chiếu, co quắp vì những cơn đau, điều đó khiến tôi hoang mang và bàng hoàng tột độ. 
Khó khăn lại chồng chất khó khăn khi gia đình tôi ăn còn chẳng đủ, ấy vậy mà ngày nào cũng phải dành tiền mua thuốc cho tôi bởi những cơn đau bệnh tật cứ hành hạ, không khi nào ngơi nghỉ. Thế là bao nhiêu dự định tốt đẹp về tương lai đành gác lại và như muốn quằn quại theo từng nỗi đau thể xác lẫn tinh thần, vô cùng tuyệt vọng.
Thú thực đã không dưới một lần tôi nghĩ đến chết, nhưng khi chứng kiến những nỗi đau vô vọng và phiền sầu đến nao lòng của người mẹ bạn tôi khi nó qua đời vì căn bệnh ung thư đường ruột, khiến tôi không thể tiếp tục cái suy nghĩ đớn hèn ấy thêm nữa. Ánh mắt yêu thương trìu mến của mẹ luôn dỗ dành, động viên, an ủi tôi. Và nhiều lắm nước mắt của mẹ, của ba đứa em gái thơ dại trong gia đình đã làm tôi hiểu ra rằng mình cần phải sống xứng đáng là người đàn ông. 
Những tháng ngày đau đớn cứ thế trôi qua vô vọng trong khi bạn bè tôi thăng tiến trên con đường sự nghiệp. Họ thành đạt, rồi cưới vợ, lấy chồng, sinh con, thật vui vầy và hạnh phúc. Có lẽ mình cũng sẽ được như họ nếu không bệnh tật như thế này. Tôi tự an ủi mình như thế, rồi bắt đầu nghĩ đến tương lai của mình, thật ảm đạm và khủng khiếp!
Những trăn trở và kiếm tìm rốt cuộc cũng chỉ đến ngõ cụt. Tôi bó gối nằm co mặc kệ đời. Tôi mặc nhiên trở thành tỷ phú thời gian, tôi làm bạn thường xuyên với radio, tivi, sách báo… Nhưng may mắn sao sách báo mà bạn bè, người thân tặng tôi, hay tôi tự đi mượn để giết thời gian hóa ra lại cho tôi thật nhiều điều có ý nghĩa. Chính những lời hay ý đẹp ấy đã làm “sáng mắt, sáng lòng” tôi, tôi sống tích cực hơn.
Tôi chợt giận mình vô cùng, tại sao không đến với sách sớm hơn? Sao không dành thời gian mà đọc và suy ngẫm những điều có ý nghĩa ấy hơn là để thì giờ trôi đi một cách hoang phí như thế? Thời gian thật quý giá biết nhường nào, điều này tôi đã được học lâu lắm rồi nhưng đến bây giờ mới thấy nó thật đúng đối với mình.
Chính những số phận nghiệt ngã nhưng đầy bản lĩnh của những nhân vật mà tôi đọc hay những cảnh đời éo le, tật nguyền dù tàn nhưng không phế, biết vươn lên có ích trong cuộc sống đã khiến tôi thực sự thức tỉnh và tin tưởng. Tôi thề với lòng mình rằng quyết không đầu hàng số phận.
Tôi dần quên đi là mình đang mang trọng bệnh, giờ đây nó không quá quan trọng nữa. Nhưng những mơ tưởng học hành thành đạt để làm ông này, bà nọ của tôi ngày nào giờ đây trở nên xa vời quá. Tôi đành gửi chúng lên những vì sao trên trời để mỗi đêm lại được nhìn thấy chúng nhấp nháy, nhưng chẳng bao giờ với tới.
Điều tôi trăn trở lúc này là làm sao mình đừng bị liệt, rồi hy vọng làm được việc gì đó phù hợp với khả năng hiện có. Và quan trọng nhất là có thể tự nuôi sống được bản thân mình, đỡ đi phần nào gánh nặng cho gia đình. Bằng không thì tôi cũng có thể làm được cái gì đó, có ích cho ai đó trong phần đời còn lại. 
Và tôi bắt đầu ý thức về việc tự chăm lo cho sức khỏe của mình, cố gắng ăn uống bình thường, tập luyện thân thể và dùng thuốc đúng cách sao cho bệnh tình không xấu thêm. Tôi vui vẻ hẳn lên và thanh thản hơn nhiều nên không thèm để ý đến mọi lời đàm tiếu xung quanh, hoặc chẳng phải tự ái, tự ti khi những ai đó tỏ ra thương hại mình. Tôi cười với mọi người, nói chuyện với mọi người nhiều hơn.
Tôi thấy gió mát thổi nhẹ thênh và nắng hồng lên xao xuyến ở trong lòng và xung quanh mình. Tôi bắt đầu tham gia sinh hoạt đoàn thanh niên tại địa phương nơi mình sinh sống, dành thời gian vào việc tình nguyện dạy kèm cho các em học sinh cấp II ở trong thôn. Thật vui khi không những có nhiều em trong thôn nơi tôi ở mà còn có nhiều em ở các thôn khác cũng đến học. 
Nhìn các em làm tôi nhớ đến tuổi học trò đầy ước mơ và hoài bão của mình, khát vọng được cống hiến lại thắp sáng trong tôi. Tôi truyền nhiệt huyết học hành cho các em, cách học, cách tính toán nhanh các phép toán, các phương trình. Và đặc biệt tôi không quên dặn các em phải biết bảo vệ sức khỏe, vì có sức khỏe thì sẽ có tất cả, và nếu có bệnh thì phải đi khám chữa ngay.
Nhưng công việc dạy kèm miễn phí của tôi chẳng được bao lâu thì đành phải dừng lại vì những cơn đau kịch liệt lại tái phát khiến tôi không thể ra khỏi nhà trong một thời gian dài. Điều đó khiến tôi hơi buồn nhưng lại hy vọng đến một ngày đẹp trời nào đó đôi chân tôi vẫn có thể tập tễnh đến với các em trong những bài toán khó, những cách làm hay. Nghĩ thế thôi cũng làm tôi rộn rã ở trong lòng.
Những ngày tháng giêng sau Tết nguyên đán vừa rồi, niềm may mắn và niềm vui lớn đến với tôi khi những người bạn học từ thuở thiếu thời giờ đây thành đạt đã tặng tôi một chiếc máy vi tính, điều đó làm tôi cảm kích vô cùng, vui mừng khôn tả xiết. Tình người, tình bạn lại thắp lửa ấm áp lòng tôi. 
Trong lúc tôi đau khổ và tuyệt vọng, bạn bè đã không những không bỏ rơi tôi mà còn đến bên, luôn động viên và an ủi, lại còn tặng tôi nhiều thứ quý giá, nào sách hay, nào máy tính. Nhưng có lẽ thứ quý giá nhất mà tôi nhận được từ bạn bè chính là tình bạn chân thành.
Bạn bè tặng máy tính cho tôi không chỉ để vui chơi giải trí, họ quan tâm đến tương lai của tôi cũng như tôi đang trăn trở với tương lai của chính mình. Thật là hạnh phúc, bạn bè đồng cảm với mình, tôi nghĩ họ đã trao cho tôi chiếc cần câu và việc còn lại là tôi phải biết câu cá để làm bữa cơm cho mình. 
Ngày còn ngồi trên ghế nhà trường tôi học văn cũng không tệ lắm nên nghĩ là mình có thể học cách viết bài gửi đăng báo. Dù không yêu thích lắm nhưng ít ra trong lúc này thì đó là công việc phù hợp với tình trạng hiện giờ. Tôi dành thời gian bên máy tính để học cách đánh văn bản, sau một thời gian miệt mài giờ đây tôi đã có thể đánh máy tốt mà không cần phải ngó bàn phím. 
Những lúc đi lại tập tễnh, tôi cố gắng đi tìm tư liệu và phỏng vấn chuẩn bị cho bài viết, hý hoáy một thôi một hồi và nuôi hy vọng trong những cơn đau. Và trời đã không phụ lòng người khi bài báo đầu tay viết về "Đề án 52 trong việc giáo dục và chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên - thanh niên ở xã tôi" đã được đăng trên báo Gia đình và xã hội. 
Nhuận bút nhận được chẳng đáng là bao, chỉ có 260 nghìn đồng nhưng trên hết món quà tinh thần vô giá mà tôi nhận được, tiếp tục thôi thúc tôi kiếm tìm chủ đề để viết. Thật tuyệt vời! Nếu viết thường xuyên thì tôi cũng có một việc làm ổn định. Tôi cười thầm trong lòng, tự khuyến khích an ủi mình và nhận ra rằng chỉ có làm việc thì tôi mới thực sự giải phóng mình ra khỏi khổ đau. Và biết đâu một công việc như thế này có thể vớt vát được cuộc đời bất hạnh của tôi.
Những lúc đau nặng không thể ra ngoài, tôi lại lục lọi thông tin trên mạng và tự mình sáng tác. Chiếc máy tính và mạng Internet trở thành người bạn, người thầy bách khoa toàn thư của tôi. Rồi tin bài tôi gửi về việc huy động vốn cho chăm sóc và bảo vệ trẻ em ở tỉnh tôi cũng đã được đăng trên tờ báo nói trên. Tôi chia sẻ niềm vui cùng gia đình, người thân và bạn bè. Gia đình tôi lại rộn rã tiếng cười như xưa, bạn bè liên tục gọi điện thoại, nhắn tin khích lệ tôi.
Giờ đây tôi đang tự vén màn sương ảm đạm của chính cuộc đời mình, hy vọng nắng hồng luôn ở lại với cuộc đời tôi. Hàng ngày tôi lại làm việc bên chiếc máy tính mà bạn bè đã đổ mồ hôi, vất vả cật lực kiếm được đồng tiền mua cho. Tôi tiếp tục viết những bài mới, cố gắng viết hay hơn và lại ước mong chứa chan những bài viết có thể nuôi sống được mình. Điều đó mới tuyệt làm sao! Tôi hiểu ra rằng phải sống vì nhiều ước mơ dang dở đang đợi mình.
Trong cuộc sống này, tôi tin chắc một điều rằng mình không hề cô độc vì bên tôi luôn có gia đình, người thân và bạn bè luôn sẻ chia nỗi đau cùng tôi. Tôi không thể phụ bạc và làm mất niềm tin trong họ đã dành cho tôi, và quan trọng hơn cả là tôi biết mình phải làm gì trong phần đời còn lại.
Thời gian còn lại không cho phép tôi sống cẩu thả hay buông xuôi. Vẫn chưa biết ngày mai rồi sẽ ra sao nên tôi sẽ sống hết mình như đang là ngày cuối cùng của đời tôi vậy, sao cho một ngày kia khi trở về với cát bụi, trong lúc mọi người khóc thì tôi có thể nở nụ cười thanh thản. Vì rằng mình đã sống những tháng ngày đầy ý nghĩa và có ích, mặc dù có thể là ngắn ngủi nhưng tôi đã cống hiến hết mình, đã cháy hết mình.
Có một câu danh ngôn mà tôi nhớ mãi, đại ý nói rằng "cuộc đời con người ta không đo bằng dài hay ngắn mà quan trọng là đã làm được bao nhiêu điều có ý nghĩa cho đời".
Phạm Anh Xuân
4/ Tôi rèn được tính kiên nhẫn nhờ theo đuổi ước mơ làm bánh
Việc làm bánh có thể thật nhỏ nhoi so với người khác, nhưng đối với tôi nó có ý nghĩa to lớn vô cùng. Nhờ làm bánh, tôi đã rèn luyện được con người mình, trở nên biết kiên nhẫn hơn, cẩn thận hơn, biết tổ chức hơn. 
Ước mơ nho nhỏ của tôi có lẽ sẽ luôn là một điều kỳ lạ và bất ngờ với bản thân tôi nói riêng và những người xung quanh tôi nói chung. Kỳ lạ ở chỗ nếu bạn biết tôi ngoài đời thường, bạn sẽ chẳng nghĩ tôi có sở thích, không, nói đúng hơn là niềm đam mê làm bánh. 
Nói ngắn gọn, mọi người xung quanh vẫn luôn thấy tôi và cái sở thích của tôi chỉ đơn giản là không liên quan đến nhau, bởi chiếc bánh kem dễ thương vẫn thường gắn với hình ảnh người con gái nữ tính và thùy mị. Còn tôi chỉ đơn giản là không hoàn toàn như thế. 
Cho đến giờ, kể từ lúc tôi biết mình có đam mê này và theo đuổi nó, cũng là một hành trình khá dài. Nhiều khi tôi nhìn lại những gì mình làm và mỉm cười ngớ ngẩn kiểu như mình thực sự thích làm bánh, mình làm được bánh sao, buồn cười thật!
Câu chuyện bắt đầu kể từ khi tôi học cấp 3, khoảng lớp 11 gì đấy, lúc này tôi 17 tuổi, có sở thích hay lang thang đọc sách ở những hiệu sách gần nhà. Cho đến một ngày tôi mới để ý rằng tôi đã vô thức đọc những quyển sách dạy làm bánh và trang trí bánh. 
Ngẩn ngơ tưởng tượng rằng đến một ngày nào đó khi mình có thể tự tay làm một chiếc bánh kem và tỉ mẩn trang trí nó, sẽ thật tuyệt vời và yên bình biết bao. Khoảnh khắc phát hiện ra điều ấy đối với tôi vô cùng lạ lẫm và đặc biệt.
Tuy nhiên, cái khoảnh khắc phát hiện ra mình thích làm bánh, tôi cũng đồng thời nhận ra một điều thật buồn, tôi không thể làm được. Đó không phải là sự lười biếng, hèn nhát hay nhụt chí, chỉ đơn giản là sự nhìn nhận khách quan vào hoàn cảnh của tôi lúc bấy giờ.
Tôi yếu ớt, ngập tràn vấn đề cá nhân và quan trọng nhất, nhà tôi nghèo, tôi phải tập trung toàn bộ cho kỳ thi đại học trước mắt. Thế nên tôi đã nghĩ, và vẫn nghĩ như thế cho đến khoảng hơn một năm rưỡi trước đây, là tôi sẽ thực hiện đam mê này trong 10 năm nữa. Khi mà tôi có thể sống độc lập hoàn toàn, có thể giúp đỡ gia đình và có một căn nhà riêng, bé thôi nhưng là của riêng tôi, với một cái bếp riêng để tôi có thể tha hồ làm bánh. 
Vì nghĩ như vậy nên tôi đã tự hình thành một phản xạ cho mình là không nhớ đến bánh, tôi hầu như không đến cửa hàng bánh nữa, cũng là một cách để quên nó đi, để giấc mơ làm bánh ngủ yên cho đến khi tôi có thể thực hiện được nó.
Nhưng cuộc sống đúng là không thể đoán trước được, tầm tháng 1 năm ngoái, lúc này tôi 20 tuổi, đã đỗ đại học và đang học năm thứ hai. Vào một hôm trời còn se lạnh, tôi có hẹn với hội bạn cấp 3 tại nhà một đứa ở Phúc Tân. 
Trên đường đi, tự nhiên tôi nghĩ đến món bánh nếp nhân vừng đen mà tôi từng ăn ở Cầu Gỗ và ghé qua mua cho chúng bạn. Tất cả bạn tôi đều say sưa ăn nhồm nhoàm và tỏ ra rất thích, hỏi tôi mua ở đâu để còn biết chỗ, tôi đã rất vui.
Chuyện có lẽ cũng kết thúc ở đó nếu đêm về tôi không tự nhiên nghĩ ra rằng chiếc bánh nếp đó thì chỉ có bột, dừa và vừng đen, bánh này là bánh cổ truyền nên không thể dùng đến lò nướng, người ta làm được thì chắc mình cũng làm được. Thế là tôi tìm trên Google "Bánh nếp vừng đen" và kích vào ngay link đầu.
Có lẽ cú click này chính là bước ngoặt của tôi bởi nhờ nó, tôi không chỉ thấy cách làm món bánh này mà còn biết đến một loại hình blog gọi là food blog, nơi mà chủ nhân của nó làm bánh, nấu ăn, post ảnh, post công thức và chia sẻ với mọi người. Thực sự, từ blog này đã mở ra cho tôi cả một thế giới mới, thế giới mà tôi đã học cách để quên từ lâu. 
Dần dà, khi đọc thêm từ blog này sang blog khác, tôi mới thấy làm bánh không quá khó như tôi tưởng. Những gì tôi cần để làm bánh chỉ là một chiếc lò nướng và một máy đánh trứng ban đầu, những dụng cụ còn lại có thể tiết kiệm và mua dần dần, tổng chi phí ban đầu khoảng 2 triệu đồng.
Lúc đấy là tháng 2, tôi quyết định lên kế hoạch tiết kiệm tiền để mua dụng cụ, song song với đọc các food blog để tự học và tranh thủ làm tất cả loại bánh tôi thấy thích mà không cần dùng đến lò nướng hay máy đánh trứng, những thứ mà hiện tại tôi chưa có.
Tôi thấy rất vui khi lại được đến cửa hàng bán bánh và có thể phân biệt các loại bánh với nhau, tôi không né tránh như trước. Trong khoảng thời gian chờ đợi để có thể làm bánh đó, đã có những lúc tôi cảm thấy rất chán nản và tự ti khi thấy những chiếc bánh mà các cô chị đi trước làm được.
Lòng phân vân và tràn ngập nghi hoặc rằng liệu đến lúc mình có lò nướng, mình có làm được như thế không, có nên tiếp tục không? Nhưng rồi tôi cũng biết câu trả lời ngay lập tức, đó là dù có thế nào tôi cũng sẽ tiếp tục theo đuổi, bởi vì đấy không đơn thuần là một sở thích, đấy là đam mê.
Nhà rất chật, vì vậy tôi đã tính đủ đường và thời gian đầu làm bánh tôi phải để lò nướng trên bàn học, mỗi khi cần làm bánh thì phải bê lò xuống bàn nước đề lò có không gian tỏa nhiệt. Làm bánh là một thú vui cần đến sự cẩn thận và kỷ luật, thứ mà tôi luôn thiếu. Việc tự học đôi khi cũng gây ra những bất lợi, vì có những điều tôi không biết hỏi ai, ngay cả việc tìm hiểu địa chỉ nơi bán dụng cụ và vật liệu làm bánh cũng là một khó khăn. 
Ngoài ra, ở nhà tôi địa hình không thuận lợi, mỗi lần làm bánh là tôi phải chạy lên chạy xuống liên tục để lấy nước mà dọn rửa. Cộng thêm với túi tiền sinh viên ít ỏi khi vừa phải tính toán tiết kiệm tiền mua nguyên vật liệu, vừa phải thí nghiệm làm bánh đã khiến đôi khi việc làm bánh không còn là thú vui dễ chịu nữa. 
Dù vậy, tất cả điều đó đều lu mờ hoàn toàn khi tôi nghĩ lại những điều mình đã làm được, nghĩ lại toàn bộ hành trình, nghĩ lại cảm giác hạnh phúc khi được làm điều mình yêu thích, khi những người thân xung quanh được nếm một miếng bánh ngon và cảm nhận một chút yên bình.